“Tha thứ là tôn giáo vĩ đại nhất. Khoan dung là tôn giáo tốt nhất.” Victor Hugo đã từng nói vậy để thức tỉnh mỗi chúng ta về một lẽ sống, một thái độ sống khiến con người ta có thể xóa tan những hận thù, những ganh ghét để tâm hồn ta trở nên bình yên, nhẹ nhõm. Chính sự vị tha, bao dung – những tôn giáo vĩ đại, những liều thuốc cho tâm trí con người sẽ khiến ta nhìn nhận cuộc sống thêm tích cực. Để rồi khi nhìn lại hành trình sống của mình - hành trình hoàn thiện cuốn hồi ký của mỗi năm tháng trong cuộc đời, ta sẽ buông bỏ những hơn thua, tính toán mà tự hào, mãn nguyện với những điều đẹp đẽ ở lại. Đó chính là lòng vị tha và bao dung. Lòng vị tha và bao dung là những phẩm chất đạo đức quan trọng, biểu hiện qua khả năng chấp nhận và tha thứ cho những lỗi lầm, khuyết điểm của người khác mà không giữ lại sự oán giận hay thù hận. Vị tha là sự sẵn lòng tha thứ, bỏ qua những sai lầm của người khác, không để những lỗi lầm đó ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ và cảm xúc của bản thân. Và bên cạnh đó, bao dung là khả năng rộng lượng, chấp nhận những khác biệt về quan điểm, lối sống và cá tính của người khác, đồng thời không phán xét hay kỳ thị. Cả hai phẩm chất này đều có những tác động tích cực với mỗi con người. Với cá nhân, khi tha thứ cho người khác, chúng ta giải phóng mình khỏi những cảm xúc tiêu cực như oán giận, thù hận và cay đắng. Những cảm xúc này nếu tồn tại lâu dài có thể gây ra stress, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tinh thần và thể chất. Nhiều nghiên cứu tâm lý học đã chỉ ra rằng, những người biết tha thứ thường có sức khỏe tâm lý tốt hơn, ít bị căng thẳng và trầm cảm hơn. Tha thứ còn giúp chúng ta giải tỏa tâm trí, từ đó có thể tập trung vào những điều tích cực và ý nghĩa hơn trong cuộc sống. Điều này không chỉ giúp chúng ta sống thanh thản mà còn tăng cường sự tự tin và lòng tự trọng. Và hơn thế, khi biết bao dung, độ lượng với những lỗi lầm của người khác hay chính bản thân ta cũng học được cách chấp nhận và yêu thương chính mình, từ đó tạo ra một cuộc sống cân bằng và hạnh phúc hơn. Hơn vậy, lòng vị tha cũng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển cá nhân. Khi tha thứ, chúng ta không chỉ giải phóng mình khỏi những cảm xúc tiêu cực mà còn học được cách đồng cảm và hiểu biết sâu sắc hơn về người khác. Điều này giúp chúng ta phát triển những kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội tốt hơn, bởi một người biết tha thứ, biết đồng cảm với những lầm lỗi của người khác sẽ luôn được yêu quý, tôn trọng. Hơn thế, lòng vị tha còn là nền tảng giúp chúng ta rèn luyện, phát triển những phẩm chất đạo đức quan trọng như lòng nhân ái, sự kiên nhẫn và khả năng tự kiểm soát. Những phẩm chất này không chỉ giúp chúng ta sống tốt hơn mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự thành công trong cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp. Rộng hơn phạm vi cá nhân, lòng vị tha còn có tác động to lớn đối với cộng đồng. Một xã hội mà trong đó mọi người biết tha thứ và bỏ qua những lỗi lầm của nhau sẽ trở nên ngày càng hòa bình và phát triển. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xã hội hiện đại, nơi sự đa dạng về văn hóa, tín ngưỡng và lối sống có thể dẫn đến nhiều xung đột và hiểu lầm. Mọi người biết tha thứ và chấp nhận lẫn nhau sẽ tạo ra môi trường sống hòa bình và hài hòa - nơi mỗi cá nhân đều có thể phát triển và cống hiến hết mình cho xã hội. Đó cũng là cách đất nước Việt Nam ta – đất nước bước ra từ chiến tranh với biết bao những vết thương vẫn còn rỉ máu tới hiện tại đã gác lại quá khứ, tha thứ cho những xung đột trong quá khứ để hướng tới sự kết nối hòa bình. Nước ta trên quan điểm tôn trọng quá khứ,bày tỏ thiện chí hòa nhập để rồi giờ đây từ những phe đối địch với cách nước như Pháp, Mĩ, Việt Nam đã xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp giữa đôi bên để hợp tác cùng phát triển. Chính sự bao dung, vị tha với những mâu thuẫn trong quá khứ ấy đã không chỉ hàn gắn vết thương chiến tranh mà còn giúp đất nước ngày càng được phát triển. Sự vị tha, bao dung có những tác động tích cực chẳng thể bàn cãi, nhưng tiếc thay vẫn có những người luôn sống trong thù hằn, ganh ghét. Họ luôn bị những suy nghĩ ganh đua, so sánh chi phối mà quên đi rằng cuộc sống còn nhiều điều tích cực, đáng giá hơn để theo đuổi. Lối sống như vậy sẽ khiến họ chẳng thể thoát ra khỏi ao tù của sự tiêu cực mà chẳng thể giữ cho bản thân một tâm hồn bình yên, nhẹ nhõm. Trong đạo Phật, Đức Phật đã răn dạy, tha thứ không chỉ là giải phóng người khác khỏi tội lỗi mà còn là giải phóng chính mình khỏi những khổ đau và ràng buộc. Đúng vậy, những giá trị này không chỉ giúp cá nhân sống đúng với những phẩm chất đạo đức cao đẹp mà còn góp phần xây dựng một thế giới hòa bình và hạnh phúc. Chúng ta hãy sống biết thứ tha, biết thông cảm để thấu hiểu nhau hơn. Và hãy để sự bao dung, vị tha từ trái tim soi tỏ cho những lầm lỗi, tiêu cực, tăm tối để tâm hồn được thanh thản.
"Tôi là người nghĩa là một kẻ chiến đấu" - Goethe đã nói như vậy gợi nhắc mỗi chúng ta đến bản chất kiên cường, dũng cảm của con người trong cuộc sống - nơi thực sự là một trường tranh đấu, nơi mà mỗi cá nhân phải không ngừng đấu tranh, không chỉ với ngoại cảnh mà còn với chính bản thân mình. Trước hết, ta hiểu đấu tranh tức là quá trình hoặc hành động đối đầu, vượt qua những khó khăn, thách thức để đạt được mục tiêu của bản thân, nó thể hiện ở sự nỗ lực, kiên định của con người trong con đường mình lựa chọn. Chúng ta có thể nhận ra rằng trái đất là một trường chiến đấu vô cùng to lớn và khắc nghiệt, ở mọi nơi, ở mọi loài, sự đấu tranh tiêu diệt lẫn nhau để sinh tồn là lẽ tự nhiên, cá lớn nuốt cá bé, chúa sơn lâm ăn thịt những loài non yếu, tất cả các sinh vật phải luôn lo âu, cảnh giác, tránh đụng chạm đề có một cuộc sống bình yên, đế không trở thành một con mồi ngon cho những loài khác. Vậy tranh đấu có ý nghĩa gì với cuộc đời mỗi chúng ta? Tranh đấu giúp chúng ta trưởng thành và phát triển bản thân. Mỗi lần vượt qua một thử thách, chúng ta không chỉ đạt được mục tiêu mà còn học hỏi thêm nhiều bài học quý giá. Những lần vấp ngã, thất bại giúp chúng ta rèn luyện sự kiên nhẫn, bền bỉ và quyết tâm. Bởi vậy, tranh đấu là quá trình tự hoàn thiện, giúp con người trở nên mạnh mẽ và vững vàng hơn trước mọi khó khăn của cuộc sống. Tranh đấu cũng là cách để ta khẳng định bản thân và tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình. Khi đối mặt với những trắc trở, chúng ta không chỉ chiến đấu vì bản thân mà còn vì những người thân yêu, vì cộng đồng. Những cuộc đấu tranh ấy giúp chúng ta nhận ra sức mạnh nội tại, khám phá ra những khả năng tiềm ẩn mà trước đây ta chưa từng biết đến. Hãy nhớ đến Thomas Edison - người phát minh ra bóng đèn đã thất bại hàng ngàn lần trước khi thành công. Ông đã chiến đấu không ngừng nghỉ, và chính nhờ sự kiên trì, ông đã mang lại ánh sáng cho toàn thế giới. Nhưng cũng có những người lại luôn đi ngược lại với điều đó, họ không có ý chí, hèn nhát, thấy khó đã nản, điều ấy thật đáng trách, và chính họ cũng tự lãng phí đi khả năng và cơ hội của mình. Cuộc sống hiện đại với nhiều áp lực và thách thức cũng đòi hỏi mỗi chúng ta phải không ngừng đấu tranh. Đấu tranh để giữ vững những giá trị đạo đức, để không bị cuốn vào vòng xoáy của sự gian dối, đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của bản thân, để không bị xã hội làm lu mờ những giá trị cá nhân. Mỗi người chúng ta đều có những cuộc chiến riêng, và chính những cuộc chiến ấy mới làm nên giá trị thực sự của cuộc sống.
Trong thi phẩm “Phố ta”, Lưu Quang Vũ từng viết những dòng đầy chiêm nghiệm: Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa Tại sao cây táo lại nở hoa Sao rãnh nước trong veo đến thế? Có lẽ giữa cuộc đời với biết bao những ngổn ngang, trăn trở, đầy những so tính, thiệt hơn thì vẫn luôn còn đó là những tiếng chim hót chào ngày mới, những cơn mưa hối hả ngày hè, những câu chào nồng hậu, từng nụ cười thơ ngây và muôn vàn điều khác luôn tồn tại. Đó chính là những điều tốt đẹp vẫn luôn hiển hiện, để mỗi chúng ta có được sự lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống. Và cũng chính sự lạc quan ấy sẽ là chìa khóa để ta được sống vui, sống hạnh phúc, để ta luôn thấy “cây táo lại nở hoa”, thấy “rãnh nước trong veo đến thế”. Đó là sức mạnh của tinh thần lạc quan với mỗi người. Trước hết, có thể hiểu tinh thần lạc quan là một trạng thái tinh thần tích cực giúp con người nhìn nhận cuộc sống từ những khía cạnh tích cực trong mọi tình huống. Đó không chỉ đơn giản là một thái độ, tinh thần lạc quan mà còn là một lối sống, một triết lý giúp con người vượt qua khó khăn, tận dụng cơ hội và đạt được thành công trong cuộc đời. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, nơi mà con người ngày ngày phải đối diện với biết bao thử thách và áp lực của trong nhịp xoay chuyển không ngừng của cuộc sống, thì tinh thần lạc quan trở nên càng quan trọng hơn bao giờ hết đối với đời sống vật chất cũng như tinh thần của mỗi người. Có thể thấy rõ, nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra người có tinh thần lạc quan thường ít bị căng thẳng, trầm cảm và lo âu hơn. Họ có khả năng phục hồi nhanh chóng sau những cú sốc tinh thần và sống một cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc. Bên cạnh đó, lạc quan còn giúp tăng cường hệ miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch và kéo dài tuổi thọ. Điều này cho thấy, lạc quan không chỉ mang lại lợi ích về mặt tinh thần mà còn có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe tổng thể của con người. Tiếp đó, ta thấy tinh thần lạc quan là nguồn sức mạnh tinh thần giúp chúng ta đối mặt và vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Khi gặp khó khăn, người lạc quan thường có xu hướng tìm ra những giải pháp tích cực và không dễ dàng bị khuất phục, thay vì chìm đắm trong lo âu và tuyệt vọng, họ nhìn nhận vấn đề một cách khách quan và tìm cách khắc phục. Họ không sợ thất bại mà coi đó là cơ hội để học hỏi và trưởng thành. Sự tự tin và quyết tâm này giúp họ vượt qua mọi trở ngại và đạt được những thành tựu đáng kể. Người có trong mình sự lạc quan, luôn cầu tiến sẽ biết nhìn nhận ra những cơ hội trong khó khăn, sẽ nhìn ra nơi ánh sáng ngập tràn trong đường hầm tăm tối, sẽ hiểu rằng khó khăn và thành công chính là bàn đạp nối đuôi nhau đưa họ tới những mục tiêu của mình. Cũng chính bởi vì vậy, lạc quan như một bệ đỡ trong tinh thần, giúp họ vượt qua những khó khăn, thử thách. Bàn về điều này, ta không thể không nhắc tới Helen Keller – nhà văn, nhà hoạt động xã hội mù điếc người Mỹ. Tuy sống trong thế giới không ánh sáng âm thanh nhưng Keller vẫn là người phụ nữ tràn đầy tinh thần lạc quan, thiết tha yêu cuộc sống. Bà đã tới hơn 70 bệnh viện để an ủi bệnh nhân, động viên họ và trong suốt cuộc đời mình và tin rằng: “Lạc quan là niềm tin dẫn tới thành tựu. Bạn chẳng thể làm được điều gì mà thiếu đi hy vọng và sự tự tin.”. Helen Keller chỉ là một trong số rất nhiều những tấm gương tiêu biểu ngoài kia về lòng yêu cuộc sống, sự lạc quan trong cuộc sống Tuy vậy, vẫn có một số người luôn ủ rũ, bi quan, họ mất niềm tin vào cuộc sống. Cũng bởi vậy mà họ sống tẻ nhạt, luôn u sầu vì không tìm được những điều tốt đẹp vẫn luôn hiện hữu trong cuộc sống. Họ tin rằng cuộc sống chỉ toàn là màu xám xịt mà không biết rằng vốn dĩ sắc xám cũng là một gam màu cần có trong bức tranh tổng thể đa màu của cuộc sống. Duy trì một lối sống như vậy sẽ thật đáng tiếc! Cuộc sống bên cạnh những đêm bão giông là những ngày ngập nắng, không có cơn mưa nào là mãi mãi và cũng chẳng có tia nắng nào là trường tồn, cuộc sống có tốt đẹp, có những cơ hội hay không phụ thuộc vào tinh thần lạc quan, phụ thuộc vào lăng kính mà bạn lựa chọn để nhìn thế giới này. Hãy luôn mỉm cười trước những khó khăn, hãy tận hưởng trọn vẹn phút giây hạnh phúc, “Hãy hướng về phía mặt trời, bóng tối sẽ khuất sau lưng bạn” (Walt Whitman)
Em hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ bàn về ý kiến của Steve Godier “Lòng nhân ái là biểu hiện cao đẹp nhất của con người”. Lòng nhân ái, theo quan điểm của Steve Godier, đó là biểu hiện cao đẹp nhất của con người. Trong xã hội ngày nay, sự nuôi dưỡng và phát triển lòng nhân ái ngày càng trở nên quan trọng. Nhân ái không chỉ đơn thuần là sự yêu thương, mà còn là trao đi tình cảm vô điều kiện, không vụ lợi cá nhân. Đó chính là cầu nối gắn kết tâm hồn, làm cho những người xa lạ có thể gần nhau hơn. Từ thời xa xưa, lòng nhân ái đã là nền tảng quan trọng của truyền thống văn hóa. Câu "lá lành đùm lá rách" hay "Thương người như thể thương thân" là những bài học quý giá được lưu truyền đời đời và luôn giữ nguyên giá trị. Trong chiến tranh, tình yêu thương đã trở thành động lực mạnh mẽ, giúp dân tộc vượt qua những thử thách khó khăn. Ngày nay, lòng nhân ái vẫn cần thiết khi chúng ta đối mặt với những thách thức của cuộc sống. Mỗi năm bão lũ đi qua đã để lại bao mất mát và tổn thất cho nhiều gia đình, nhờ tấm lòng nhân ái mà đã vơi đi những nỗi mất mát ấy để giúp họ trở lại cuộc sống bình thường. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những thái độ vô cảm, ích kỉ, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân. Cần lên án những hành động lợi dụng lòng tốt để đạt được mục đích cá nhân. Bằng cách hỗ trợ nhau, chúng ta có thể xây dựng một xã hội đầy lòng nhân ái, nơi mà mọi người sống yêu thương và chia sẻ, làm cho tâm hồn mỗi người trở nên phong phú và đẹp đẽ hơn.
Chứng minh rằng bản đồ là phương tiện được sử dụng rộng rãi trong đời sống hằng ngày. Trả lời Bản đồ là phương tiện được sử dụng rộng rãi tron g đời sống hàng ngày: - Trong dự báo thời tiết: xác định vị trí, hướng di chuyển của cơn bão... cần tới bản đồ. - Trong hành trình: Sử dụng bản đồ để xác định phương hướng, tìm đường đi,... - Ngành sản xuất nào cũng cần tới bản đồ: nghiên cứu thời tiết và khí hậu, việc làm thủy lợi, xây dựng các trung tâm công nghiệp, canh tác đúng thời vụ, mở các tuyến đường giao thông, quy hoạch các tuyến điểm du lịch... đều cần tới bản đồ. - Trong quân sự lại càng cần tới bản đồ để xây dựng phương án tác chiến, lợi dụng địa hình địa vật trong phòng thủ hay tấn công...
Hãy cho biết tác dụng của bản đồ tron g học tập. Nêu dẫn chứng minh họa. Trả lời - Trong học tập, bản đồ là phương tiện để học sinh học tập, rèn luyện kĩ năng địa lí và trả lời nhiều câu hỏi kiểm tra về địa lý. Ví dụ: + Qua bản đồ xác định được vị trí của một điểm, chịu ảnh hưởng của biển ra sao, thuộc đới khí hậu nào… + Nhận biết được hình dạng và quy mô các châu lục, đo đạc chiều dài sông, biết được sự phân bố các dãy núi và độ cao của chúng, thấy được sự phân bố dân cư, các trung tâm công nghiệp...
Bài 3. SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG HỌC TẬP VÀ ĐỜI SỐNG (Bài 3 - Ban nâng cao) KIẾN THỨC CƠ BẢN 1 Vai trò củ a bản đồ trong đời sống và học tập - Trong học tập: Bản đồ là phương tiện không thể thiếu trong học tập (học tại lớp, học ở nhà, để kiểm tra); xác định được vị trí của một địa điểm, mối quan hệ tương hỗ giữa các thành phần địa lí, các đặc điểm của các đối tượng địa lí… - Trong đời sống: Xác định đường đi, xem dự báo thời tiết; phục vụ các ngành kinh tế; quân sự. 2 Sử dụng bản đồ, Atlat tron g học tập Khi sử dụng bản đồ, Atlat cần lưu ý: Đọc tên bản đồ để biết được nội dung thể hiện trên bản đồ; Tìm hiểu tỉ lệ bản đồ; Xem các ước hiệu; Xác định phương hướng; Tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố địa lí... 3. Ứng dụng của viễn thám và hệ thống thông tin Địa lý (Phần cho ban nâng cao) a) Viễn thám - Viễn thám là ứng dụng khoa học và công nghệ hiện đại để thu thập thông tin về các đối tượng từ xa. - Ý nghĩa của viễn thám: Sử dụng các thông tin vào nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là quản lý môi trường. b) Hệ thống thông tin địa lý - Khái niệm hệ thống thông tin địa lý. - Ý nghĩa: Sử dụng trong giáo dục; Theo dõi và quản lý môi trường; Quản lý khách hàng, sản xuất;...
Phân biệt các phương pháp: kí hiệu, chấm điểm, bản đồ – biểu đồ, khoanh vùng (vùng phân bố). - Phương pháp kí hiệu Phương pháp kí hiệu là phương pháp biểu hiện bản đồ đặc biệt được dùng để thể hiện các đối tượng địa lí phân bố theo từng điểm cụ thể, đối tượng này không phản ánh được trong tỉ lệ bảnn đồ hoặc chiếm diện tích nhỏ hơn diện tích mà kí hiệu chiếm (điểm dân cư, mỏ khoáng sản, các trung tâm công nghiệp...). Các kí hiệu thể hiện từng đối tượng được đặt đúng vào vị trí của đối tượng đó. Ngoài việc chỉ rõ vị trí phân bố và thể loại của đối tượng, thường các kí hiệu còn có khả năng thể hiện những đặc trưng về số lượng, chất lượng, cấu trúc, động lực của đối tượng. - Phương pháp chấm điểm Phương pháp chấm điểm dùng để biểu hiện các hiện tượng phân bố tản mạn, phân tán trên lãnh thổ bằng những điểm chấm. Ví dụ: phân bố cây trồng, vật nuôi; phân bố dân cư, nhất là dân cư nông thôn,... Thực chất của phương pháp này là các điểm chấm tương ứng với một số lượng nhất định các đối tượng và được bố trí ở chỗ tương ứng của đối tượng đó trên bản đồ. Kết quả là sẽ đưa lên bản đồ một số lượng điểm có độ lớn bằng nhau. Tập hợp các điểm đó (độ dày đặc) cho ta khái niệm rõ ràng về sự phân bố của đối tượng, còn số lượng điểm cho phép ta xác định số lượng của đối tượng. - Phương pháp bản đồ - biểu đồ Phương pháp này thể hiện sự phân bố của một đối tượng nào đó bằng các biểu đồ được bố trí trên bản đồ trong các đơn vị lãnh thổ (thường có tính chất hành chính) và biểu thị một giá trị tổng cộng của một hiện tượng địa lí trong phạm vi lãnh thổ tương ứng. Ví dụ: giá trị sản lượng công nghiệp theo từng tỉnh, diện tích rừng các tỉnh... Như vậy, phương pháp này không chỉ rõ sự phân bố cụ thể của đối tượng trong đơn vị lãnh thổ mà biểu đồ đặt vào, để nó thể hiện giá trị tổng cộng của đối tượng trong lãnh thổ đó. Phương pháp này thể hiện được đặc tính số lượng (bằng kích thước của biểu đồ), chất lượng (bằng màu sắc hoặc hình dáng biểu đồ) cấu trúc (bằng việc chia biểu đồ thành các phần nhỏ) và động lực của hiện tượng (bằng cách dựng các biểu đồ có độ lớn khác nhau). - Phương pháp khoanh vùng Phương pháp này còn đượ c gọi là phương pháp vùng phân bố. Phương pháp khoanh vùng dùng để thể hiện không gian phân bố của một hiện tượng, đối tượng nào đó, ví dụ: vùng phân bố cây thuốc nam, vùng dân tộc khác nhau, vùng phân bố trâu, bò... Các vùng thuộc các hiện tượng khác nhau có thể không kề nhau, có thể xen kẽ nhau, thậm chí có thể che cho nhau do phụ thuộc vào vị trí tương quan trên thực tế của các hiện tượng đó. Người ta có thể dùng nét chải, màu sắc, kí hiệu... để thể hiện sự phân bố của đối tượng (chú ý kí hiệu ở phương pháp vùn g phân bố không gắn với một điểm cụ thể trên bản đồ tương ứng với ngoài thực tế như phương pháp kí hiệu, mà kí hiệu ở đây tượng trưng cho sự có mặt của đối tượng trên toàn vùng). (Nguồn: Bản đồ học – K.A. Xalisep, NXB ĐHQG Hà Nội, 2005 và Bản đồ học - Lê Huỳnh, NXB Giáo dục, 2000)
HỆ QUẢ CHUYỂN ĐỘNG XUNG QUANH MẶT TRỜI CỦA TRÁI ĐẤT KIẾN THỨC CƠ BẢN 1 Chuyển động biểu kiến hàng nă m của Mặt Trời - Mặt Trời lần lượt chiếu vuông góc vào bề mặt Trái Đất từ chí tuyến nam đến chí tuyến bắc rồi lại từ chí tuyến bắc đến chí tuyến nam. - Ở khu vực nội chí tuyến, một năm có hai lần Mặt Trời lên thiên đình. - Ở khu vực chí tuyến, một năm có một lần Mặt Trời lên thiên đình. 2 Hiện tượng mùa - Có bốn mùa: xuân, hạ, thu đông. Mùa ở hai nửa cầu thì trái ngược nhau. - Nguyên nhân: + Do Trái Đất hình cầu. + Khi chuyển động xung quanh Mặt Trời trục Trái Đất không thay đổi hướng nghiêng và độ nghiêng nên lượng nhiệt và ánh sáng nhận được không giống nhau giữa hai nửa cầu. 3 Hiện tượng đêm ngày dài ngắn theo mùa - Xích đạo quanh năm có đêm dài bằng ngày - Mùa xuân, hạ có ngày dài đêm ngắn, mùa thu và đông có ngày ngắn, đêm dài. - Khu vực từ hai vòng cực về cực có đêm hoặc ngày dài 24 giờ. - Ngày 21/3 và 23/9 trên toàn thế giới có ngày dài bằng đêm.
Vì sao ở Bắc cực và Nam cực có nửa năm là ngày và nửa năm là đêm? Trái Đất của chúng ta không ngừng quay quanh Mặt Trời và trong trục Trái Đất luôn nghiêng với quỹ đạo chuyển động một góc 66°33 và không đổi hướng trong không gian. Vào tiết Xuân phân hàng năm. Mặt Trời chiếu thẳng vào Xích đạo của Trái Đất Sau đó Trái Đất chuyển dịch dần. Đến mùa hè, Mặt Trời chiếu thẳng vào vùng Bắc bán cầu. Tiếp đó đến tiết Thu phân Mặt Trời lại chiếu thẳng vào vùng Xích đạo và đến mùa đông thì nó chiếu thẳng vào vùng Nam bán cầu. Trong thời gia n mùa hè, vùng Bắc bán cầu suốt ngày được Mặt Trời chiếu sáng, dù Trái Đất vẫn tự quay nhưng Bắc cực không nằm trong vùng bóng tối của Trái Đất (nằm trước đường phân chia sáng - tối) và suốt mấy tháng liền ở Bắc cực lúc nào cũng thấy Mặt Trời treo lơ lửng trên không trung. Sau tiết Thu phân Mặt Trời chiếu thẳng vào vùng Nam bán cầu. Bắc cực nằm trong vùng tối của Trái Đất và chìm vào màn đêm. Trong suốt mùa đông, ánh Mặt Trời không chiếu đến Bắc cực. Nửa năm sau Mặt Trời mới lại xuất hiện. Bởi vậy trong 6 tháng liền (từ mùa xuân đến mùa thu) Bắc cực đều là ban ngày, 6 tháng còn lại là ban đêm. Ở Nam cực thì ngược lại với chu kì ở Bắc cực. Trong thực tế, do ảnh hưởng của khúc xạ khí quyển. Khi Mặt Trời ở dưới đường chân trời khoảng 1/2 độ, thì ánh sáng Mặt Trời đã chiếu sáng mặt đất. Vì vậy ở Bắc cực trước tiết Xuân phân độ 2 – 3 ngày, ánh sáng Mặt Trời đã chiếu sáng và sau tiết Thu phân độ 2 – 3 ngày Mặt Trời mới lặn hẳn. Bởi vậy, thời gian ban ngày ở Bắc cực và Nam cực dài hơn 6 tháng một chút. Nhưng do quỹ đạo của Trái Đất quay quanh Mặt Trời không phải hình tròn, nên thời gian ban ngày ở Bắc cực dài hơn một chút so với thời gia n ban ngày ở Nam cực. (Nguồn: Bộ sách 10 vạn câu hỏi vì sao, thiên văn học - Chu Công Phùng, NXB Khoa học - Kĩ thuật, H, 1999)
Vì sao tháng 2 chỉ có 28 ngày? – Trong dương lịch tháng đủ có 31 ngày và tháng thiếu có 30 ngày, chỉ riêng tháng 2 có 28 ngày (có năm là 29 ngày). Đây là quy định có từ lâu trong lịch sử. - Vào năm 46 trước Công nguyên, Hoàng đế La Mã là Julius Cesar đã quy định một năm có 12 tháng, tháng lẻ là tháng đủ có 31 ngày, tháng chẵn là tháng thiếu có 30 ngày. Tháng 2 là tháng chẵn lẽ ra cũng có 30 ngày. Nhưng khi tính toán cụ thể thì 1 năm không phải là 365 ngày mà là 366 ngày, đành phải bớt một ngày trong 1 năm. Người ta đã chọn tháng 2 để bớt đi một ngày. Nguyên nhân là do hồi đó theo phong tục của La Mã, các tội phạm nặng bị từ hình vào tháng 2, do đó tháng 2 bị coi là tháng không lành, nên hoàng đế La Mã đã quyết định bớt 1 ngày vào tháng 2 “xấu số”. Vì vậy tháng 2 chỉ còn 29 ngày. – Sau đó hoàng đế Auguste lên ngôi kế nghiệp Julius. Vì Julius sinh vào tháng 7 là tháng đủ còn Auguste sinh vào tháng 8 là tháng thiếu nên Auguste quyết định đổi tháng 8 từ 30 ngày thành 31 ngày cho “ngang bằng” với Julius. Đồng thời đổi luôn 4 tháng cuối năm: tháng 9 và tháng 11 từ chỗ là tháng đủ thì chuyển thành tháng thiếu, tháng 10 và tháng 12 vốn là tháng thiếu được chuyển thành tháng đủ. Việc thay đổi tùy tiện đó khiến một năm lại dôi ra 1 ngày và lại được bớt vào tháng 2 “xấu số”. Và thế là tháng 2 chỉ có 28 ngày, những năm nhuận tháng 2 có 29 ngày. Hơn 2000 năm nay, nhân loại theo thời gian đã sử dụng dương lịch với quy định bất hợp lí đó. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra nhiều phương án cải tiến nhằm giúp cho việc sử dụng dương lịch hợp lý và thuận tiện hơn
Giả sử Trái Đất không tự quay quanh trục mà chỉ chuyển động quanh Mặt Trời thì ở Trái Đất có ngày đêm không? Nếu có thì thời gian ban đêm và ban ngày là bao nhiêu? Khi đó, liệu ở bề mặt Trái Đất có sự sống không? Tại sao? Trả lời - Do Trái Đất hình cầu nên nếu Trái Đất không tự quay quanh trục mà chỉ chuyển động quanh Mặt Trời thì Trái Đất vẫn có đêm và ngày. Nhưng độ dài khôn g phải là một ngày đêm mà độ dài ngày đêm là một năm (6 tháng ngày và 6 tháng đêm). - Với thời gian kéo dài như vậy, phần ban ngày sẽ rất nóng bởi bị Mặt Trời đốt nóng liên tục trong nửa năm, phần ban đêm sẽ rất lạnh vì trong nửa năm không được Mặt Trời chiếu đến nên mất nhiệt lớn. Như vậy, nó tạo ra sự chênh lệch nhiệt độ rất lớn, trong điều kiện đó sự sống cũng không thể hình thành và phát triển được.
Sự thay đổi các mùa có tác động thế nào đến cảnh quan thiên nhiên, hoạt động sản xuất và đời sống con người? Trả lời - Sự thay đổi các mùa làm cho cảnh quan thiên nhiê n cũng thay đổi theo mùa, mỗi mùa thiên nhiên mang một màu sắc riêng đặc trưng (mùa đông lạnh giá, cây cối trơ trụi lá; mùa thu khí trời mát mẻ, cây cối ngả vàng; mùa xuân ấm áp, cây cối đâm chồi nảy lộc; mùa hạ ánh nắng dồi dào, cây cối xanh tươi...), - Hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp cũng có tính mùa vụ (trong sản xuất lúa có vụ mùa, đông xuân, hè thu; rau vụ đông; vụ thu hoạch cả phê, cây ăn quả...). Ngoài ra, trong hoạt động du lịch và công nghiệp khai thác cũng có tính mùa. - Đời sống con người cũng có những thay đổi trong sinh hoạt: ở, ăn, mặc,..... đề thích nghi với điều kiện thời tiết từng mùa.
Vì sao Trái Đất lơ lửng trong không trung mà không bị rơi xuống? Bất kì vật gì tồn tại xung quanh chúng ta cũng đều được vật khác đỡ, ngay cả máy bay, con chim trên trời cũng được không khí đỡ. Nhưng Trái Đất lơ lửng trong không trung thì được vật nào đỡ. Mấy nghìn năm trước đây con người đã đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau: người Trung Hoa cổ cho rằng con rùa đội mặt đất; người Nhật cổ cho rằng mặt đất được đặt trên lưng ba con cá voi lớn nổi giữa biển; người Ấn Độ cổ cho rằng loài voi là “đại lực sĩ” trong thế giới động vật và mặt đất được đặt trên lưng bốn con voi lớn; còn người Babilon cổ cho rằng mặt cất giống như một miếng gỗ nổi trên mặt biển. Tất cả những giả thiết trê n đều không đúng. Đáp án chính xác phải đợi đến khi nhà vật lý người Anh là Newton phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn. Newton đã phát hiện ra rằng mọi vật đều hút lẫn nhau. Vật nào có khối lượng càng lớn thì sức hút của nó với vật khác càng mạnh. Theo tính toán, Mặt Trời và Trái Đất có sức hút lẫn nhau là 35 × 107 tấn. Vậy tại sao Trái Đất không bị hút về phía Mặt Trời. Nguyên nhân là do Trái Đất quay quanh Mặt Trời với tốc độ rất nhanh (khoảng 30km/s), nhờ vậy sinh ra lực ly tâm rất lớn cân bằng với lực hút của Mặt Trời. Bởi vậy, Trái Đất cứ “lơ lửng” trong không gian mà không bao giờ bị “rơi”. (Nguồn: Bộ sách 10 vạn câu hỏi vì sao, thiên văn học – Chu Công Phùng, NXB Khoa học - Kĩ thuật, H, 1999)
Lý thuyết Xưng hô trong hội thoại Tiếng Việt có một hệ thống từ ngữ xưng hô rất tinh tế, phong phú và giàu sắc thái biểu cảm Người nói cần căn cứ vào đối tượng và các đặc điểm khác của tình huống giao tiếp để xưng hô cho thích hợp. (Người nói phải hết sức chú ý) Từ ngữ xưng hô trong Tiếng Việt rất phong phú, có các đại từ nhân xưng (tôi, chúng tôi, chúng ta…) Tiếng Việt còn sử dụng các danh từ chỉ quan hệ họ hàng, ruột thịt (bố, mẹ, anh, chị, cô, dì, ...); các danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ (sếp, thủ trưởng, bác sĩ, giáo viên, ...); và cả tên riêng để xưng hô Biết lựa chọn từ ngữ xưng hô một cách thích hợp để thể hiện một cách văn hóa, lịch sự. Vi dụ: Chúng ta là những người bạn tốt
Liên kết câu và liên kết đoạn văn Lý thuyết Các câu trong đoạn văn cũng như đoạn văn trong một văn bản phải liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và hình thức - Liên kết nội dung bao gồm + Liên kết chủ đề: các câu phải hướng tới chủ đề chung của đoạn văn, các đoạn văn phải hướng tới chủ đề chung của văn bản + Liên kết logic: Các câu, các đoạn văn phải được sắp xếp hợp lý, phù hợp với trình tự triển khai chủ đề của đoạn văn, của văn bản - Liên kết hình thức + Phép lặp từ ngữ: lặp lại ở câu đứng sau từ ngữ đã có ở câu trước đó Ví dụ: Trời xanh thăm thẳm, biển cũng xanh thăm thẳm như dâng cao, chắc nịch. Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương. Trời âm u mây mưa, biển xám xịtt nặng nề. Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu giậ n dữ. (Vũ Tú Nam) + Phép thế: sử dụng ở câu đứng sau từ ngữ có tác dụng thay thế từ ngữ đã có ở câu trước đó Ví dụ: Tên trộm lẻn vào nhà ăn cắp, tôi phát hiện ra, hắn đã chạy. + Phép nối: sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ biểu thị quan hệ với câu trước đó Ví dụ: Bác Hồ đã dạy cán bộ phải liêm chính, chí công, vô tư nhưng vẫn có nhiều cán bộ không thực hiện được điều đó. + Phép trái nghĩa, đồng nghĩa và liên tưởng: Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã có ở câu trước. Ví dụ: “Tôi là cô gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tố n, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dài, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì anh lái xe bảo: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm” (Lê Minh Khuê) Lưu ý: - Liên kết câu và liên kết đoạn cùng sư dụng phương tiện liên kết (phép lặp, phép thế, phép nối, phép liên tưởng…) - Tất cả các phương tiện liên kết phải nằm ở các câu khác nhau, nếu nội tại trong câu thì không phải là phép liên kết - Đối với liên kết đoạn, ngoài việc sử dụng từ ngữ liên kết còn sử dụng câu liên kết. Câu dùng để liên kết gọi là câu nối. Câu nói thường được viết như sau: + Như chúng ta đã biết…sau đây… + Ở trên…phần tiếp theo… + Trên đây…dưới đây… + Trở lên trên…còn phần sau đây
Giải thích nhan đề bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nhan đề bài thơ dài nhưng độc đáo, ấn tượng, viết về đề tài người mẹ. - Khúc hát ru: là một âm hưởng quen thuộc gợi ngọt ngào sâu lắng trong tâm hồn bạn đọc. Khúc hát gợi lên sự dịu êm của tình mẹ. - Hình ảnh những em bé lớn trên lưng mẹ rất thực (gợi ra hình ảnh những bà mẹ vùng cao các dân tộc thiểu số thường địu con khi lao động hay làm bất cứ việc gì) gợi ý nghĩa sâu xa, lớn lao về sự vĩ đại của người mẹ. Từ đó, ca ngợi người mẹ miền núi nói riêng và người mẹ Việt Nam nói chung, bình dị nhưng vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống chống Mĩ cứu nước.
Chỉ ra những từ láy được sử dụng trong khổ thơ và cho biết tác dụng của các từ láy này trong việc thể hiện mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình? Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng chư là đồng là bể như là sông là rừng... Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình. Các từ láy: rưng rưng, phăng phắc, vành vạnh. - Tác dụng: + “Rưng rưng”: gợi cảm xúc nghẹn ngào, muốn khóc mà không thể khóc, diễn tả tâm trạng con người khi đối diện với trăng. + “Vành vạnh”: gợi tả dáng vẻ tròn đều và đầy đặn, biểu tượng cho sự trọn vẹn, thủy chung quá khứ nghĩa tình của thiên nhiên + “Phăng phắc”: nhấn mạn h trạng thái im lặng đến mức không có một tiếng động dù là nhỏ nhất, gợi liên tưởng đến cái nhìn bao dung, độ lượng mà nghiêm khắc của trăng - người bạn thủy chung, tri kỉ và quá khứ ân tình. - Tác giả: nhìn nhận sự việc sâu sắc, từ câu chuyện riêng nâng lên thành triết lý trong cuộc sống: Chúng ta cần biết trân trọng quá khứ và người cùng bên mình khi gian khổ, khó khăn. Đoạn thơ thuộc hình thức độc thoại nội tâm vì: đây là những lời tâm sự trong lòng tác giả, không đượ c phát ra thành lời - Tác dụng: cho thấy những day dứt, trăn trở của người thi nhân khi đối mặt với vầng trăng. Nhận ra sự bội bạc của mình với quá khứ thủy chung và tình nghĩa.
Hình ảnh trăng trong bài thơ Ánh trăng Hình ảnh trăng xuyên suốt bài thơ mang ý nghĩa như thế nào? Vì sao khổ cuối nhà thơ lại sử dụng ánh trăng chứ không phải vầng trăng? Cách thay đổi hình ảnh trong thơ như vậy còn được bắt gặp trong bài thơ nào? Của ai? - Ý nghĩa của hình ảnh trăng xuyên suốt bài thơ mang ý nghĩa rất sâu sắc: + Là biểu tượng cho thiên nhiên quê hương đất nước hồn nhiên tươi mát và bình yên + Là người bạn (đồng đội, đồng bào) luôn đồng hành chia sẻ khi gian nan, thử thách + Là quá khứ nghĩa tình vẹn nguyê n không thay đổi + Là nhân chứng lịch sử vừa nghiêm khắc nhưng bao dung, độ lượng Khổ cuối sử dụng "ánh trăng" chứ không phải "vầng trăng" để nhấn mạnh vào ánh sáng tỏa ra từ vầng trăng có khả năng soi rọi vào tâm hồn người, khiến con người thức tỉnh... - Cách thay đổi hình ảnh như vậy em còn bắt gặp: Bếp Lửa –Bằng Việt (bếp lửa- ngọn lửa)