Song góc nhớ thương đó không làm cho người lính mềm lòng, nhụt chí mà nó còn thôi thúc, động viên người lính vững chí, cầm chắc tay súng để dành lại tự do cho dân tộc. Tình cảm đồng chí, đồng đội đặc biệt thể hiện ở tinh thần vượt khó, vượt khổ trong những câu thơ tiếp theo: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn ta y. Địa bàn chiến đấu của người lính thời kì lúc bấy giờ ở nơi rừng thiêng nước độc, địa hình hiểm trở, cùng với sự thiếu thốn về vật chất. Những câu thơ miêu tả hiện thực đời sống người lính và nghệ thuật sóng đôi đã khắc họa tới từng chi tiết khó khăn, gian khổ, đói rét, bệnh tật hoành hành. Có những người lính đã phải bỏ mạng nơi rừng thiêng nước độc bởi cơn sốt rét hành hạ mà không có một viên thuốc bên mình. Gian khổ là vậy, các anh đói, rét, chân không giày, đầu không mũ, áo phong phanh, quần rách, đêm nằm trên lá khô và chịu những cơn ớn lạnh của núi rừng Việt Bắc. Mặc dù vậy, nhưng các anh vẫn nở nụ cười trong buốt giá, nụ cười như cất lên tiếng ngợi ca tình đồng chí xoa đi cái lạnh giá của mùa đông, cái gian khổ trong kháng chiến chống Pháp. Viết lên những dòng thơ này, Chính Hữu không phải định kể khổ để làm bài thơ trở nên bi thảm, lòng người bi quan mà để ngợi ca người lính: họ biết đồng cam cộng khổ: Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Câu thơ nhẹ nhàng, giản dị, đậm chất lính. Hai tiếng “Thương nhau” đặt lên đầu câu khiến nhịp thơ như lắng lại. Trong “thương” không chỉ có tình yêu mà còn có cả sự xót xa, cảm thông cho nhau. Chính trong tâm thế đó, những người lính tìm đến nhau trong cái nắm tay tình nghĩa. Đó là cái nắm tay thắm thiết, thân mật, siết chặt tình đồng chí keo sơn, truyền cho nhau hơi ấm để giúp đồng đội vượt qua sự giá lạnh nơi núi rừng cũng là cái nắm tay truyền ý chí chiến đấu, truyền ngọn lửa cách mạng. Cái bắt tay âm thầm lặng lẽ không ồn ào, không cần lời hoa mĩ, họ trao nhau hơi ấm từ lòng bàn tay, từ trái tim, vì họ đã hiểu rõ lòng nhau, vì họ “thương nhau”. Hơi ấm lan tỏa cả hai người, khiến họ nở một nụ cười, dù là “buốt giá”. Chính nhà thơ Chính Hữu từng tâm sự: “Tất cả những gian khổ của người lính trong giai đoạn này thật khó kể hết nhưng chúng tôi vẫn vượt lên được nhờ sự gắn bó tiếp sức của tình đồng đội trong quân ngũ. Cho đến hôm nay, mỗi khi nhớ lại tình đồng đội năm xưa, lòng tôi vẫn còn xúc động bồi hồi”. Cuộc chiến đấu trường kỳ, ác liệt, gian khổ là thế, bộ đội ta chỉ có tình đồng chí đồng đội, sự đồng cảm giai cấp là nền tảng, là cơ sở duy nhất để tồn tại, tiếp sức cho nhau tiếp tục chiến đấu hướng đến thắng lợi cuối cùng Ba câu thơ tiếp theo cũng là câu kết thúc bài thơ đã khắc họa một bức chân dung của người lính trong đêm canh gác ở rừng. Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. Hai câu thơ đầu là hình ảnh thực của người lính trên chiến hào truy kích giặc, câu thơ đã thể hiện tình đồng chí được tôi luyện trong thử thách và gian lao với phông nền “rừng hoang sướng muối” đầy khắc nghiệt của thiên nhiên. Hình ảnh đôi bạn chiến đấu "đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới" tạo nên tư thế vững chãi nương tựa vào nhau. Song giữa họ còn có người bạn thứ ba đồng hàn h trong những đêm phục kích, đó là trăng. Hình ảnh trăng bát ngát, chông chênh trên nền trời, rồi trăng cứ xuống thấp dần soi sáng tình đồng chí của người lính và có lúc như treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Những đêm như thế, vầng trăng đối với người lính như một người bạn tri kỉ. Suốt bài thơ là bút pháp tả thực nhưng đến câu kết hiện thực đã pha chút lãng mạn, thơ mộng giữa cảnh vật và tâm hồn. Tâm hồn người lính không khô khan trước chiến tranh khốc liệt mà vẫn thấy rung động trước vẻ đẹp của cuộc sống, của thiên nhiên. Vì thế, súng và trăng, thực và mộng, thi sĩ và chiến sĩ đã hòa quyện tạo nên nét đẹp thơ mộng, tạo nên tình đồng chí cao đẹp, thiêng liêng giữa cuộc chiến đấu đầy gian khổ. Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” còn mang ý nghĩa tượng trưng. “Súng” là biểu tưởng cho lửa đạn chiến tranh, cho sự khốc liệt mà con người không muốn nghĩ đến. Còn “trăng” biểu tượng thiên nhiên cho sự hòa bình mà con người luôn khao khát. “Đầu súng trăng treo” là một trong những hình ảnh thơ độc đáo, bất ngờ và hay nhất là điểm nhấn cho đoạn thơ, là điểm sáng cho toàn bài thơ. Ba câu thơ cuối là bức tranh đẹp về tình đồng chí của người lính, là biểu tượng đẹp đẽ giàu chất thơ về cuộc đời người chiến sĩ trong gian đoạn kháng chiến đầy gian khổ. Kết bài: Hình tượng người lính trong tác phẩm hiện lên qua bài thơ thật giản dị, chân thực và giàu sức biểu cảm. Nhà thơ đã khéo léo vận dụng ngôn ngữ tự nhiên, bình dị, những tục ngữ, thành ngữ dân gian làm cho lời thơ trở nên mộc mạc, thi vị, đi thẳng đến trái tim người đọc. Bên cạnh đó với những câu văn sóng đôi, những hình ảnh biểu trưng, ngòi bút hiện thực lãng mạn của ông đã tô điểm thêm vẻ đẹp sáng ngời của tình đồng chí, đồng đội. Lịch sử chiến tranh đã đi vào dĩ vãng nhưng bài thơ về tình đồng chí có lẽ sẽ sống mãi với quê hương, với Tổ quốc, với thế hệ hôm nay, ngày mai và mãi mãi về sau. Đọc tiếp: Phân tích bài thơ Đồng chí phần 1
Mở bài: - Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm - Giới thiệu vấn đề nghị luận Hình tượng người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp là đề tài được nhiều thi nhân và văn nhân quan tâm. Đó là những anh hùng áo vải, sẵn sàng hi sinh tính mạng cho sự nghiệp của Tổ quốc. Trong những thi nhân đó ta phải kể đến nhà thơ Chính Hữu với tác phẩm nổi tiếng là Đồng Chí. Bài thơ là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất về đề tài người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc Thân bài: Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu được sáng tác vào đầu năm 1948 - thời điểm cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra vô cùng ác liệt. Mở đầu bài thơ tác giả sử dụng ngôn ngữ giản dị để giới thiệu về xuất thân của người lính, họ hiện lên là những người có chung hoàn cảnh vất vả, khó khăn. Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Tôi với anh đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn que n nhau Chính Hữu tuy không chỉ đích danh, quê quán nơi cư trú từng người, song ta bắt gặp thành ngữ quen thuộc “nước mặn đồng chua” và “đất cày lên sỏi đá” thể hiện rõ nhất xuất thân của người lính, câu thơ cũng giống như lời giãi bày tâm sự. Họ là những người đến từ mọi miền tổ quốc từ đồng bằng ven biển ngập mặn cho đến vùng trung du miền núi với đất đá khô cằn. Quê hương xa cách nhau mỗi người một nơi nhưng cùng chung một cái nghèo, cái lam lũ, khó nhọc của người dân thời kháng chiến. Những nét tương đồng đó đã khiến họ từ xa lạ đã gắn kết, xích lại gần nhau, họ đã trở thành bạn bè thân thiết và cùng hàng ngũ cách mạng có chung lí tưởng. Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí! Câu thơ “Súng bên súng, đầu sát bên đầu” được tác giả sử dụng điệp từ và hoán dụ đã diển tả đầy đủ và trọn vẹn sự gắn bó của những người lính trong quân ngũ. Hình ảnh “súng bên súng” đã diễn tả những người lính có cùng chung lí tưởng, nhiệm vụ cách mạng vì sự nghiệp giải phóng cho quê hương, dất nước. Còn hình ảnh “đầu bên đầu” là cách nói hoán dụ tượng trưng cho sự gắn bó, kề vai sát cánh, sống chết có nhau. Khi màn đêm buông xuống cái rét của đêm rừng Việt Bắc đã cho thấy sự sẻ chia, đồng cảm của tình đồng đội, họ cùng đắp một tấm chăn mỏng để xoa đi cái lạnh buốt giá, cái khó khăn, gian khổ của núi rừng. Tấm chăn mỏng đã sưởi ấm tinh bạn, tình đồng chí và họ đã trở thành tri kỉ. Đồng chí! Một câu kết thúc đoạn rất đặc biệt cùng với dấu chấm cảm như một lời khẳng định tình đồng chí thật thiêng liêng và cao quí. Và tất cả sự sẻ chia, đặc biệt ấy là cơ sở cho tình đồng đội, đồng chí của toàn bài thơ, đồng thời nó có sức vang dội và ngân nga mãi trong lòng người đọc. Những câu thơ tiếp theo tác giả đã tiếp tục mở ra những biểu hiện cụ thể và cảm động về tình đồng chí giữa những người lính trong hoàn cảnh khó khăn của chiến tranh, từ đồng cảnh họ thành đồng cảm. “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Nếu chiến tranh không xảy ra thì họ vẫn là nhũng người nông dân “chân lấm tay bùn” nhưng khi đất nước bị xâm lăng, tinh thần dân tộc thôi thúc, họ lên đường theo tiếng gọi của non sông và họ đã trở thành người cách mạng. Ruộng nương, nhà cửa gửi lại hậu phương là những người bạn ở nhà. Hình ảnh “gian nhà không mặc kệ gió lung lay” gây xúc động đến nao lòng. Nhà trống, không tài sản, xiêu vẹo bởi gió lung lay gợi ra hoàn cảnh nghèo khó đến tận cùng của người lính. Từ “mặc kệ” mộc mạc như cách nói của người dân quê chất phác vang lên, ẩn chứa một thái độ ra đi kiên quyết, mạnh mẽ, dứt khoát vào chốn sa trường vì họ hiểu rằng: nước nhà chưa yên, thì gia đình, cuộc sống ở chốn làng quê cũng không thể yên được. Bỏ lại chuyện riêng tư như người trí thức thành thị “xếp bút nghiên lên đường”, họ sẵn sàng ra đường hi sinh cho dân tộc. Họ lên đường vì nghĩa lớn nhưng quê hương luôn khiến họ trào dâng nỗi nhớ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”. Nói quê hương nhớ người lính là hình ảnh nhân hóa nhưng thực chất là người đi lính nhớ nhà, nhất là gốc đa, giếng nước, mái đình, nơi hò hẹn mỗi mùa trăng về, nơi chứng kiến cuộc chia ly buổi lên đường... những kỉ niệm ấy luôn neo đậu trong tâm tư và họ sẻ chia cho nhau, đồng cảm niềm vui, nỗi buồn. Đọc tiếp: Phân tích bài thơ Đồng chí phần 2
Thơ hiện đại Việt Nam STT Tên văn bản Tác giả Nội dung Nghệ thuật 1 Đồng chí (1948) Chính Hữu, tên khai sinh Trần Đình Đắc (1926-2007), quê ở huyện Can Lộc, Hà Tĩnh - 1947, ông bắt đầu sáng tác thơ và thơ ông chủ yếu viết về chiến tranh và người lính với ngôn ngữ cô đọng, cảm xúc dồn nén Thể hiện tình đồng chí cao đẹp của những người lính dựa trên cở sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu được thể hiện thât tự nhiên, bình dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh. Góp phần tạo nên sức mạnh vè vẻ đẹp tinh thần người cách mạng. Những hình ảnh, chi tiết, ngôn ngữ giản dị, chân thực, cô đọng, giàu sức biểu cảm. Biện pháp đối ngữ, sóng đôi được sử dụng rất thành công. 2 Bài thơ về tiểu đội xe không kính (1969) Phạm Tiến Duật (1941-2007), quê huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Thơ của ông thể hiện thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua hình tượng người lính Khắc họa nổii bật hình ảnh những người lính lái xe trên đường Trường Sơn thời kì chống Mĩ với tinh thần dũng cảm, tư thế hiên ngang và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam. Hình ảnh độc đáo, giọng điệu khỏe khoắn, tự nhiên. Kết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ và 8 chữ làm giọng thơ sinh động. 3 Đoàn thuyền đánh cá (1958) Huy Cận (1919- 2005) tên là Cù Huy Cận, quê Hà Tĩnh. Ông nổi tiếng trong phong trào thơ mới với tập "Lửa thiêng". Là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đạ i Việt Nam Bài thở là bức tranh rộng lớn, tráng lệ về thiên nhiên, vũ trụ và con người lao động trên biển cả. Nhà thơ bộc lộ cảm xúc, niềm vui, niềm tự hào trước cuộc sồng mới Nhiều hình ảnh sáng tạo và có sự liên tưởng, tưởng tượng Âm thanh khỏe khoắn, lạc quan 4 Bếp lửa (1963) Bằng Việt sinh năm 1941, quê ở Thạch Thất, Hà Tây. Thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ Những hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành về những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu. Qua đó, bộc lộ những tình cảm sâu nặng với gia đình, quê hương, đất nước -Biểu cảm kết hợp với tự sự, miêu tả và bình luận -Giọng điệu tâm tình, thiết tha, chân thành, tự nhiên. -Hình ảnh bếp lửa vừa thực vừa mang ý nghĩa biểu trưng 5 Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ (1971) Nguyễn Khoa Điềm sinh 1943, trong một gia đình trí thức cách mạng, quê xã Thủy An, thành phố Huế. Ông thuộc nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc Tình yêu thương con của người mẹ dân tộc Tà- ôi gắn liền với tinh yêu nước và tinh thần chiến đấu của người mẹ miền tây Thừa Thiên. -Giọng thơ tha thiết, ngọt ngào, trìu mến Bố cục được đan xe thơ và lời hát ru tạo khúc hát ru tâm tình, sâu lắng 6 Ánh trăng (1978) Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh 1948, quê ở tỉnh Thanh Hóa. Ông là gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thờ i chống Mĩ cứu nước. Lời nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước hiền hậu, bình dị. Nhắc nhở độc giả về thái độ sống “uống nước nhớ nguồn” Giọng điệu tự nhiên, tâm tình, hình ảnh giàu tính biểu cảm 7 Con cò (1962) Chế Lan Viên (1920-1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ, Quảng Trị nhưng lớn lên ở Bình Định. Ông là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ Việt Nam ở thế kỷ XX Bài thơ khai thác hình tượng con cò trong những lời hát ru, nhà thơ ca ngợi tinh mẹ và ý nghĩa của lời ru đối với cuộc sống. Vận dụng ca dao vào bài thơ rất sáng tạo. Câu thơ mang tính cô đúc mang triết lí sâu sắc 8 Mùa xuân nho nhỏ (1980) Thanh Hải (1930-1980) tên khai sinh là Phạm Bá Ngoãn, quê ở Phong Điền, Thừa Thiên - Huế. Ông hoạt động văn nghệ từ cuối những năm kháng chiến chống Pháp. Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân thiên nhiên, đất nước, thể hiện ước nguyện chân thành được góp mùa xuân nho nhỏ cua mình vào mùa xuân lớn của dân tộc Lời thơ trong sáng, tha thiết, gần gũi với dân ca, nhiều hình ảnh đẹp giản dị, gợi cảm những so sánh và ẩn dụ sáng tạo. 9 Viếng lăng Bác (1976) Viễn Phương (1928-2005) tên khai sinh là Phan Thanh Viễn, quê ở tỉnh An Giang. Ông là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kỳ chống Mĩ cứu nước. Bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của tác giả đối với Bác Hồ trong một lần từ miền Nam ra thăm lăng Bác Giọng thơ trang trọng và tha thiết nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp, gợi cảm, ngôn ngữ bình dị và cô đúc. 10 Sang thu (1977) Hữu Thỉnh tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Thỉnh sinh năm 1942 ở huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Cảm nhận của nhà trước sự chuyển mình của thiên nhiên cuối hạ sang thu Thể thơ năm chữ giàu sắc thái trữ tình, tự sự. Sử dụng phép nhân hóa, ẩn dụ tăng sức gợi cảm cho bài thơ 11 Nói với con (sau 1975) Y Phương (1948-2022) tên khai sinh là Hứa Vĩnh Sước, dân tộc Tày; quê ở Trùng Khánh, Cao Bằng Bài thơ thể hiện tình cảm ấm cúng gia đình, ca ngợi truyền hống quê hương, dân tộc, gợi nhắc tình cảm gắn bó và ý chí vươn lên trong cuộc sống. Ngôn ngữ mang sắc thái của người dân tộc vừa cụ thể, giàu hình ảnh, mang tính gợi cảm vừa giàu ý nghĩa sâu xa.
So sánh hình ánh trăng trong câu thơ “đầu súng trăng treo” của Chính Hữu với hình ảnh trăng trong câu thơ “trăng cứ tròn vành vạnh” của Nguyễn Duy. - Những nét giống nhau: + Đều là vẻ đẹp của thiên nhiên. + Gắn với hình tượng người lính trong kháng chiến, mang ý nghĩa biể u tượng (ẩn dụ) - Những nét khác nhau: + Hình ảnh “trăng treo” của Chính Hữu gợi mối liên tưởng đến giây phút bình yên nơi và hoang vắng nơi chiến trường, tượng trưng cho hòa bình mà con người đang khao khát trong tương lai; + “Trăng cứ tròn vành vạnh” của Nguyễn Duy mang biểu trưng cho sự tròn đầy, thủy chung, nghĩa tình và sự bất tiện không bao giờ đổi thay.
THỔ NHƯỠNG QUYỂN. CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH THỔ NHƯỠNG 1 Thổ nhưỡng quyển - Thổ nhưỡng (đất) là lớp vật chất tơi xốp ở bề mặt lục địa, được đặc trưng bởi độ phì. (Độ phì là khả năng cung cấp khí, nước, nhiệt và các chất dinh dưỡng cần thiết cho thực vật sinh trưởng và phát triển). - Lớp vỏ chứa vật chất tơi xốp này nằm ở trên bề mặt lục địa - nơi tiếp xúc với khí quyển, thuỷ quyển, thạch quyển, sinh quyển - được gọi là thổ nhưỡng quyển (lớp phủ thổ nhưỡng). 2 Các nhân tố hình thành đất - Đá mẹ: Lớp đá bị vỡ vụn, chưa bị phong hoá hoàn toàn, nằm trên đá gốc, được gọi là đá mẹ. Mọi loại đất đều được hình thành từ đá mẹ; đá mẹ là nguồn cung cấp vật chất vô cơ cho đấ t. - Khí hậu: + Tác động của ẩm và nhiệt làm cho đá gốc bị phá huỷ về mặt vật lý và hoá học trở thành những sản phẩm phong hoá, sau đó tiếp tục được phong hoá trở thành đất. + Khi đất đã hình thành, nhiệt và ẩm còn ảnh hưởng tới sự tích tụ hoặc hoà tan, rửa trôi vật chất, đồng thời tạo môi trường để vi sinh vật tổng hợp và phân giải chất hữu cơ trong đất. - Sinh vật: + Thực vật: Cung cấp phần lớn xác vật chất hữu cơ cho đất. Rễ thực vật bám vào các khe nứt của đá làm phá huỷ đá. + Động vật: Động vật sống trong đất (kiến, giun, mối,...) góp phần làm đất tơi xốp, thoáng khí, dễ thấm nước và nhiệt hơn. + Vi sinh vật: vi sinh vật phân giải xác sinh vật và tổng hợp thành mùn - Địa hình + Ở vùng núi cao, nhiệt độ thấp, quá trình phá huỷ đá xảy ra chậm, làm cho quá trình hình thành đất chậm. + Địa hình dốc, tầng đất thường mỏng, đất dễ bị xói mòn. Nơi bằng phẳng, quá trình bồi tụ chiếm ưu thế, tầng đất thường dày và giàu chất dinh dưỡng hơn. + Ảnh hưởng tới khí hậu, từ đó tạo ra các vành đai đất khác nhau theo chiều cao. - Thời gian: Đá gốc biến thành đất cần có thời gian. Thời gian từ khi một loại đất được hình thành đến nay gọi là tuổi tuyệt đối của đất. - Vai trò của con người: Tác động của con người có thể làm gián đoạn hoặc thay đổi hướng phát triển của đất (ví dụ: bón phân hữu cơ làm tăng độ phì của đất; làm rẫy, đốt nương sẽ đẩy mạnh quá trình xói mòn, bạc màu đất,...).
Sự hình thành mây Nguyên nhân chính hình thành mây là chuyển động đi lên của không khí. Trong chuyển động này không khí bị lạnh đi đoạn nhiệt và hơi nước chứa trong không khí đạt tới trạng thái bão hòa và ngưng lại. Không khí bay lên cao có thể do nhiều nguyên nhân: không khí bị mặt đất đốt nóng, không khí trượt lên cao theo theo sườn đồi núi và mặt frông nghiêng Khi mây hình thành, những hạt nguyên thủy thường là những giọt nướ c. Nếu mây hình thành trong lớp không khí có nhiệt độ dưới 0C thì mấy cấu tạo bởi những giọt nước quá lạnh. Mây được cấu tạo bởi những giọt nước gọi là mây nước. Nếu nhiệt độ âm đủ thấp thì mây cấu tạo bởi những tinh thể băng. Loại này gọi là mây băng (hoặc mây tinh thể). Mây cũng có thể cấu tạo từ tinh thể băng và những giọt nước quá lạnh, loại này gọi là mây hỗn hợp. Những tinh thể băng nhỏ li ti và những giọt nước tạo thành mây có trọng lượng không đáng kể. Tốc độ rơi của chúng rất nhỏ, chỉ một luồng không khí đi lên yếu ớt cũng đủ giữ chúng lơ lửng trên không và thậm chí là bay lên cao. Nhờ có gió, mây di chuyển theo chiều nằm ngang. (Theo Những điều cơ bản của khí tượng học và khí hậu học – S.I. Cốt−xtin, NXB Nha khí tượng, 1963)
Một số loại gió chính - Gió Tây ôn đới, gió mùa, gió mậu dịch Gió Tây ôn đới Gió mậu dịch Gió mùa Gió mùa đông Gió mùa hạ Phạm vi hoạt động Áp cao chí tuyế n đến áp thấp ôn đới Khu vực hai chí tuyến Nam Á, Đông Nam Á, Đông Phi, Ôxtrâylia… Nguyên nhân Chênh lệch khí áp Chênh lệch khí áp giữa áp thấp Xích đạo và áp cao cận chí tuyến Sự nóng lên hoặc lạnh giữa lục địa và đại dương theo mùa Thời gian Quanh năm Quanh năm Theo mùa Hướng Bán cầu Bắc: tây nam Bán cầu Nam: tây bắc Bán cầu bắc: đông bắc-tây nam Bán cầu nam: tây nam-đông bắc Gió mùa hè: tây nam-đông bắc Gió mùa đông: đông bắc-tây nam - Gió địa phương. + Gió biển, gió đất: hoạt động vùng ven biển; Nguyên nhân: Do sự khác nhau về tính chất hấp thụ nhiệt của đại dương và đất liền + Gió phơn: là gió vượt địa hình núi cao; tính chất khô khan.
Sự phân bố sinh vật và đất theo vĩ độ Đới tự nhiên Kiểu khí hậu Kiểu thảm thực vật Đất Đài nguyên Cận cực lục địa (giá rét). Đài nguyên (Rêu, địa y, một số cây bụi thấp). Đài nguyên (tầng mỏng, chua, nghèo chất dinh dưỡng). Ôn đới - Ôn đới lục địa (lạnh, ở phía bắc lục địa). - Ôn đới hải dương (lượng mưa khá). - Ôn đới lục địa (nửa khô hạ n). - Rừng lá kim - Rừng lá rộng (sồi, gai, dẻ,…) - Thảo nguyên (cỏ là chủ yếu) Pôtdôn Nâu và xám Đen (tầng mùn dày, chất lượng mùn tốt). Cận nhiệt - Cận nhiệt gió mùa (lượng mưa tương đối phong phú, mùa hạ ấm ẩm, mùa đông khô). - Cận nhiệt Địa Trung Hải - Cận nhiệt lục địa. - Rừng cận nhiệt ẩm (thảm thực vật rừng hỗn hợp lá kim: thông, tùng, bách,. . . và lá rộng: sồi, dé, long não,...) - Cây bụi lá cứng cận nhiệtt và rừng - Bán hoang mạc và hoang mạc Đỏ vàng Nhiệt đới - Nhiệt đới lục địa - Cận xích đạo gió mùa. - Xích đạo lục địa, Nhiệt đới gió mùa - Bán hoang mạc và hoang mạc. - Xavan. + Rừng Xích đạo và rừng nhiệt đới ẩm. - Xám - Đỏ, nâu - Feralit
Vai trò của sinh vật trong sự hình thành đất Thực vật xanh cung cấp đại bộ phận chất hữu cơ cho đất. Nhờ khả năng đồng hóa cacbon của thực vật xanh, hàng năm chúng có thể tạo ra một lượng khổng lồ vật chất hữu cơ (khoảng 53 tỷ tấn/năm). Cùng với khí hậu, lớp phủ thực vật có vai trò quyết định tới chiều hướng của quá trình hình thành đất. Trong quá trình sống, mỗi loại thực vật có khả năng lựa chọn thức ăn cần thiết cho hoạt động sống của mình và khi chết đi, xác của chúng có tỉ lệ khác nhau về các chất hữu cơ và chất tro. Điều này làm cho đất có những đặc điểm riêng biệt của nó. Thí dụ: đất đỏ vàng hình thành dưới Xích đạo và rừng nhiệt đới ẩm là do quá trình feralit tạo nên, đất tích lũy nhiều nhôm và sắt, phản ứng đất chua do kiềm bị rửa trôi. Nhưng đất sec-nô-di-om hình thành dưới thực vật thảo nguyên lại do quá trình hình thành mùn tạo nên, đất giàu dinh dưỡng, phản ứng từ trung tính tới kiềm. Thực vật còn hạn chế sự xói mòn của nước, điều hòa nhiệt độ ở lớp không khí sát mặt đất, điều hòa lượng nước thấm vào đất, nên ảnh hưởng tới sự thành tạo đất. Vai trò của vi sinh vật với sự hình thành đất thể hiện ở sự phân hủy và tổng hợp chất hữu cơ. Vi sinh vật phân hủy các tàn tích hữu cơ, lấy thức ăn để tổng hợp nên chất hữu cơ trong cơ thể chúng. Nhờ vậy, các tàn tích hữu cơ đượ c phân hủy thành chất đơn giản. Vi sinh vật tổng hợp nên chất hữu cơ mới và độc đáo của đất - đó là mùn (là các hợp chất hữu cơ cao phân tử). Đất là môi trường sống của nhiều loại côn trùng (kiến, dế, mối...) và nhiều loại động vật sống trong đất như dúi, chuột chũi, giun... Nhờ hoạt động đào bới mà đất được xáo trộn trở nên dễ thấm khí và nước, làm tăng tốc độ hình thành kết cấu đất... (Theo Địa lí tự nhiên đại cương, tập 3 – Nguyễn Kim Chương (chủ biên), NXB Sư phạm, H, 2004)
Một số nhân tố ảnh hưởng tới chế độ nướ c sông Nhân tố Ảnh hưởng đến tốc độ dòng chảy của sông Chế độ băng tuyết, mưa và nước ngầm. + Sông có nguồn tiếp nước chủ yếu là nước mưa: chế độ nước sống hoàn toàn phụ thuộc vào sự phân bố lượng mưa trong năm ở nơi đó. + Sông có nguồn tiếp nước chủ yếu là băng tuyết tan: khi mùa xuân đến, băng tuyết tan, sông được tiếp nước nhiều. + Nước ngầm phong phú, mực nước không sâu, sông sẽ được tiếp nước nhiều. Địa thế, thực vật, hồ đầm. + Địa thế: ở miền núi, nước chảy nhanh hơn ở đồng bằng, đặc biệt là sau mỗi cơn mưa to. + Thực vật: tán cây, lớp thảm mục, rễ cây có tác dụng giữ và làm cho nước thấm dần xuống đất, tạo mạch ngầm, điều hoà dòng chảy của sông. + Hồ, đầm: điều hoà nước sông.
So sánh những điểm khác và giống nhau của một số kiểu khí hậu: * Kiểu khí hậu ôn đới lục địa và ôn đớii hải dương: - Giống nhau: nhiệt độ năm trung bình ôn hòa (tháng cao nhất không tới 20°C), lượng mưa trung bình năm ở mức trung bình. - Khác nhau: Hải dương Lục địa Nhiệt độ Tháng thấp nhất vẫn trên 0°C. Biên độ nhiệt năm nhỏ. Lục địa Tháng thấp nhất xuống dưới 0°C. Biên độ nhiệt năm lớn. Lượng mưa Mưa hầu như quanh năm và mưa nhiều hơn Mưa nhiều vào mùa hạ và mưa ít hơn * Kiểu khí hậu cận nhiệt Địa Trung Hải và nhiệt đới gió mùa – Điểm giống nhau: đều có một mùa mưa và một mùa khô; nhiệt độ trung bình năm cao. – Khác nhau: Nhiệt đới gió mùa Cận nhiệt Địa Trung Hải Nhiệt độ Nhiệt độ trung bình năm cao hơ n. Nhiệt độ trung bình năm thấp hơn. Lượng mưa Nóng ẩm, mưa nhiều vào mùa hạ. Mưa ít vào mùa đông. Nóng khô vào mùa hạ. Mưa nhiều vào mùa đông.
Nhận xét sự phân bố các vành đai núi lửa, động đất và các vùng núi trẻ. - So sánh hình 10 với hình 7.3 (Các mảng kiến tạo lớn của thạch quyển) ta thấy các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ thường phân bố ở nơi tiếp xúc của các mảng kiến tạo, ví dụ: dãy Hi-ma-lay–a nằm ở nơi tiếp xúc giữa mảng Ấn Độ – Ô - Xtrây-lia với mảng Á– Âu; vùng núi trẻ Cooc-đi-e nằm ở nơi tiếp xúc của mảng Thái Bình Dương với mản g Bắc Mỹ; vành đai lửa ở phía tây Thái Bình Dương nằm ở nơi tiếp xúc của mảng Thái Bình Dương với mảng Á– Âu...
Dạy kèm Ngữ Văn tại nhà hiệu quả Dạy kèm ngữ văn tại nhà là hình thức giảng dạy và học tập nhữ văn được thực hiện tại nhà của học sinh. Đây là hình thức đon giản.tiện lợi và linh hoạt cho các học sinh giúp các em tập trung vào việc học tập một cách hiệu qảu và thuận tiện hơn. Trong dạy kèm ngữ văn tại nhà, giáo viên- gia sư sẽ đế n nhà học sinh để dạy và giải đáp thắc mắc các vấn đề liên quan đến Ngữ Văn, bao gồm cả Ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, kỹ năng đọc hiểu, viết luận, nghị luận và các dạng bài kiểm tra khác. Hình thức này thường đực các gia đình lựa chọn vì nó rất tiện lợi và thuận tiện. Thường thì dạy kèm Ngữ văn tại nhà được tiến hành theo các buổi cá nhân theo thời gian cụ thể và theo nhu cầu của học sinh. Tất cả đều hướng đến những phương pháp giảng dạy hiệu quả, chất lượng nhất để họ c sinh đạt được kết quả cao trong học tập và thi cử. Ưu điểm khi học Ngữ văn tại nhà 1. Học sinh có thể học tập theo tốc độ của mình mà không bị áp lực về thời gian. Giáo viên sẽ cung cấp cho học sinh các tài liệu và bài tập phù hợp với trình độ và nhu cầu của học sinh, giúp học sinh tiến bộ nhanh hơn. Dạy kèm ngữ văn tại nhà cũng giúp học sinh tập trung hơn và không bị phân tâm bởi những yếu tố khác trong lớp học chung. Học sinh sẽ không phải cạnh tranh với những học sinh khác để được giáo viên chú ý và giải đáp thắc mắc, giúp họ có thể tiếp thu kiến thức một cách tốt hơn. 3. Dạy kèm ngữ văn tại nhà còn giúp học sinh nâng cao kỹ năng tự học và tự quản lý thời gian. Học sinh sẽ phải tự chịu trách nhiệm về quá trình học tập của mình và tự giải quyết các khó khăn và thắc mắc, giúp họ trưởng thành và tự tin hơn trong việc học tập và đạt được thành công. 4. Dạy kèm ngữ văn tại nhà cũng giúp học sinh tạo mối quan hệ gần gũi và tin tưởng hơn với giáo viên của mình, giúp họ dễ dàng hơn trong việc hỏi đáp và trao đổi kiến thức Tóm lại, dạy kèm ngữ văn tại nhà là một hình thức học tập hiệu quả và tiện lợi cho các em học sinh. Tuy nhiên, để có kết quả tốt thì bạn cần tìm một giáo viên, gia sư có kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy. Đồng thời cá nhân người học phải tập trung, nỗ lực khi học Ngữ văn tại nhà.
Cách nhận biết trung tâm gia sư tại nhà Uy tín? Trung tâm gia sư uy tín được dánh giá qua các tiêu chí sau 1. Kinh nghiệm: Trung tâm gia sư Uy tín thường có kinh nghiệm trong việc cung cấp dịch vụ gia sư một cách chuyên nghiệp. Bạn có thể tìm hiểu thông tin chi tiết về công ty trung tâm để biết them về độ tin cậy 2. Chuyên môn gia sư: Trung tâm gia Uy tín sẽ có dội ngũ gia sư trình độ cao, có kinh nghiệm giảng dạy và chuyên môn, nghiệp vụ kỹ năng bài bản. phụ huynh có thể tra cứu thông tin của gia sư ngay tại trung tâm. Đồng thời yêu cầu gia sư có 1-2 buổi dạy thử để đánh giá chất lượng giảng dạy 3. Chất lượng dịch vụ: Trung tâm gia sư Uy tín sẽ đảm bảo chat lượng dịch vj của mình bằng cách giảng dạy, cung cấp bài giảng thường xuyên, kiểm tra định kỳ tình hình học sinh.Phụ huynh có thể hoiri các chương trìnhđào tạo, phương pháp giảng dạy, cách thức đánh giá kết quả của gia sư đối với việc học của con mình. 4. Phản hồi cả phụ huynh đã lựa chọn trung tâm: Bạn có thể tìm hiểu thông tin về trung tâm gia sư qua phản hồi của phụ huynh trước. Điều này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về trung tâm gia sư bạn đang hướng tới. Tóm lại để nhận biếu một trung tâm gia sư tại nhà Uy tín bạn hãy tìm hiểu kỹ thông tin về trung tâm, đội ngũ gia sư, giáo viên, dịch vụ họ cung cấp và phản hồi của phụ huynh về trung tâm đó.Bottom of Form
Ôn thi Ngữ văn Ôn thi ngữ văn là một trong những bài kiểm tra quan trọng của học sinh trong kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông. Để đạt kết quả cao trong bài thi này, học sinh cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và hiểu rõ về cách làm bài. Trong bài thi ngữ văn, học sinh sẽ phải trả lời các câu hỏi liên quan đến đề bài và viết một bài luận văn về chủ đề được đưa ra. Để làm tốt bài thi này, học sinh cần phải nắm vững kiến thức về ngữ văn và có kỹ năng viết tốt. Để viết một bài luận văn hay và đạt điểm cao trong bài thi ngữ văn, học sinh cần phải tuân thủ một số quy tắc sau đây: 1. Hiểu rõ đề bài: Học sinh cần đọc đề bài kỹ lưỡng và hiểu rõ yêu cầu của đề bài trước khi bắt đầu viết bài. 2. Lập kế hoạch và sắp xếp ý: Sau khi hiểu rõ yêu cầu của đề bài, học sinh cần phải lập kế hoạch và sắp xếp các ý để viết bài sao cho hợp lý và logic. 3. Sử dụng ngôn từ chính xác và phong phú: Học sinh cần phải sử dụng ngôn từ chính xác và phong phú để diễn đạt suy nghĩ và ý tưởng của mình. 4. Chú ý đến cấu trúc và cách diễn đạt: Học sinh cần phải chú ý đến cấu trúc và cách diễn đạt của bài viết để bài viết trở nên hấp dẫn và dễ hiểu. 5. Sử dụng ví dụ và thực tế để minh hoạ ý tưởng: Học sinh cần sử dụng ví dụ và thực tế để minh hoạ ý tưởng của mình và giúp cho bài viết trở nên sinh động và thuyết phục hơn. 6. Đọc lại và chỉnh sửa bài viết: Sau khi hoàn thành bài viết, học sinh cần đọc lại và chỉnh sửa bài viết để đảm bảo rằng bài viết không có lỗi chính tả và sử dụng ngôn từ chính xác.
Dạy viết văn cho học sinh lớp 12 Viết văn là một kỹ năng quan trọng trong cuộc sống, đặc biệt là trong kì thi tốt nghiệp THPT. Vì vậy, để giúp các bạn học sinh có thể đạt được kết quả tốt nhất trong kì thi này, dưới đây là một số lời khuyên và hướng dẫn cơ bản để viết một bài văn hay và chất lượng. Tìm hiểu đề bài và lựa chọn hướng viết phù hợp Trước khi bắt tay vào viết bài, bạn học sinh cần đọc kỹ đề bài và hiểu rõ yêu cầu của đề. Sau đó, bạn nên lựa chọn hướng viết phù hợp với đề bài và sở thích của mình. Tập trung vào nội dung và ý tưởng chính Một bài văn hay phải có nội dung chính xác và sâu sắc. Bạn nên lên kế hoạch và sắp xếp ý tưởng của mình trước khi viết để đảm bảo rằng bài văn của mình có ý tưởng chính rõ ràng và được phát triển đầy đủ. Sử dụng ngôn ngữ phong phú và đa dạng Để tăng tính thuyết phục và thể hiện được năng lực văn chương của mình, bạn nên sử dụng ngôn ngữ phong phú và đa dạng. Bạn có thể sử dụng các từ đồng nghĩa, thuật ngữ chuyên ngành hoặc các thành ngữ để tăng độ phong phú của bài văn. Có cấu trúc rõ ràng và logic Một bài văn hay cần phải có cấu trúc rõ ràng và logic. Bạn nên chia bài văn thành các đoạn và sắp xếp các ý tưởng của mình theo một trật tự logic để giúp độc giả có thể theo dõi và hiểu được bài văn của bạn. Kiểm tra lại và sửa chữa bài văn Sau khi viết xong bài văn, bạn nên kiểm tra lại và sửa chữa bài văn của mình để đảm bảo không có lỗi chính tả hoặc sai sót ngữ pháp nào trong bài văn của mình. Tóm lại, viết văn là một kỹ năng quan trọng và cần được rèn luyện để có thể đạt được kết quả tốt trong kì thi tốt nghiệp THPT
BÀI 18 THỰC HÀNH PHÂN TÍCH CHẾ ĐỘ NƯỚC SÔNG HỒNG (Bài dành riêng cho ban nâng cao) HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI Dựa vào bảng số liệu (trang 78 – SGK nâng cao), hãy phân tích chế độ nước sông Hồng: – Lưu lượng nước trung bình năm của sông Hồng (được tính bằng tổng lưu lượng các tháng/12): 3.632,6m^3/s. Như vậy, mùa cạn có lưu lượng dưới trung bình còn mùa lũ là các tháng có lưu lượng vượt mức lưu lượng trung bình – Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, kéo dài 5 thángg. Tổng lưu lượng mùa lũ khoảng 32.736m^3/s, chiếm 75% lưu lượng dòng chảy cả năm. Lưu lượng thảng cao nhất gấp 2,24 lần tháng thấp nhất. – Mùa cạn gồm 7 tháng tính từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau. Lưu lượng mùa cạn chiếm 25% lưu lượng dòng chảy cả năm. - Như vậy chế độ nước sông Hồng tha y đổi theo mùa với một mùa lũ và một mùa cạn tương ứng với mùa khô (mùa đông) và mùa mưa (mùa hạ) của khí hậu. - Vẽ đồ thị: Đồ thị thể hiện chế độ nước sông Hồng
Vai trò của biển đối với con người Biển và đại dương chiếm 71% diện tích hành tinh với độ sâu trung bình 3.710m và tổng khối nước 1,37 tỷ km^3 Tài nguyên biển và đại dương rất đa dạn g được chia ra thành các loại: Nguồn lợi khoáng chất và hoá chất chứa trong khối nước và đáy biển; nguồn lợi nhiên liệu hóa thạch, chủ yếu là nguồn năng lượng "sạch" khai thác từ gió, dầu và khí tự nhiên, nhiệt độ nước biển, các dòng hải lưu và thuỷ triều. Vùng thềm lục địa và mặt biển là đường giao thông thuỷ, biển là nơi chứa đựng tiềm năng cho phát triển tham quan, du lịch, nghỉ ngơi, giải trí, nguồn lợi sinh vật biển. Sinh vật biển là nguồn lợi quan trọng nhất của con người, gồm hàng loạt nhóm thực vật, động vật và vi sinh vật. Hai nhóm đầu có tới 200.000 loài. Sản lượng sinh học của đại dương và biển như sau: thực vật nổi 550 tỷ tấn, thực vật đáy 0,2 tỷ tấn, các loài động vật tự bơi (cá, mực, thú...) 0,2 tỷ tấn. Năng suất sơ cấp của biển khoảng 50 – 250g/m^2/năm. Sản lượng khai thác thuỷ sản từ đại dương và biển toàn thế giới gia tăng, ví dụ năm 1960: 22 triệu tấn; 1970: 40 triệu tấn; 1980: 65 triệu tấn; 1990: 80 triệu tấn. Theo đánh giá của FAO, lượng thuỷ sản đánh bắt tối đa từ biển là 100 triệu tấn. đại dương và biển là kho chứa hoá chất vô tận. Tổng lượng muối tan chứa trong nước biển là 48 triệu km^3, trong đó có iốt, muối ăn và 60 nguyên tố hoá học khác. Các loại khoáng sản khai thác chủ yếu từ biển như dầu khí, quặng Fe, Mn, các loại muối và quặng sa khoáng. Năng lượng sạch từ đại dương và biển hiện đang được khai thác phục vụ vận tải biển, chạy máy phát điện và nhiều lợi ích khác của con người. Biển Đông của Việt Nam có diện tích hơn - triệu km^2, với độ sâu trung bình 1.140m, nơi sâu nhất 5,416m. Vùng có độ sâu trên 2.000m chiếm 1/4 diện tích thuộc phần phía Đông của biển. Thềm lục địa có độ sâu < 200m chiếm trên 50% diện tích. Tài nguyên của Biển Đông rất đa dạng, gồm dầu khí, tài nguyên sinh vật (rong biển, thuỷ sản). Riêng trữ lượng hải sản ở phần Biển Đông thuộc Việt Nam cho phép khai thác với mức trên 1,2 – 1,4 triệu tấn/năm. (Theo 200 câu hỏi đáp về môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Vì sao nước biển có màu xanh? Nước biển là môi trường không phải trong suốt hoàn toàn, nênn ánh sáng không thể xuyên đến các độ sâu lớn, mà sẽ bị khuếch tán, rồi hấp thụ và phản xạ ngay ở lớp nước bên trên. Những tia cấu tạo nên ánh sáng gồm có: đỏ, da cam, vàng, xanh lá cây, xanh thẫm, chàm, tím bị nước hấp thụ khác nhau. Càng vào sâu trong nước, các tia màu đó lần lượt tắt đi. Trước tiên, tia đỏ và tia da cam tắt ở độ sâu khoảng 100m, tiếp đến tia vàng và tia xanh lá cây ở độ sâu khoảng 300m, sau cùng là tia xanh thẫm tắt ở độ sâu 500 – 600m. Như vậy các tia màu xanh mạnh nhất, xuống sâu nhất, và các tia đơn sắc xanh cũng khuếch tán và phản chiếu dễ dàng nhất. Vì vậy, nước biển càng trong càng sâu thì càng xanh. Tuy nhiên, càng vào gần bờ thì độ trong suốt càng giảm, nước biển chuyển sang màu xanh nhạt hơn. (Theo Địa lý trong trườn g học, tập 4 – Nguyễn Hữu Danh (chủ biên), NXB Giáo dục, 2005)
KHÍ QUYỂN SỰ PHÂN BỐ NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ TRÊN TRÁI ĐẤT KIẾN THỨC CƠ BẢN 1 Khí quyển là lớp vỏ không khí bao quanh Trái Đất, luôn chịu ảnh hưởng của Vũ Trụ, trước hết là Mặt Trời. Thành phần của không khí có: Nitơ (78,1% ôxi (20,43%), hơi nước và các khí khác (1,47%). 2 Cấu trúc của khí quyển Tầng Giới hạn Đặc điểm Tầng đối lưu Nằm trên bề mặt Trái Đất. Chiều dày ở Xích đạo: 16km, ở cực: 8km. - Không khí chuyển động theo chiều thẳn g đứng. - Tập trung 3/4 hơi nước (từ 4km trở xuống) và các phần tử bụi, khí, vi sinh vật, muối... - Nhiệt độ giảm theo độ cao. Tầng bình lưu Từ giới hạn trên của tầng đối lưu lên đến 50-60 km - Không khí loãng, khô và chuyển động thành luồng ngang. - Tập trung phần lớn khí ôzôn - Nhiệt độ ở đỉnh tầng bình lưu tăng lên +10॰C Tầng giữa Từ giới hạn trên của tầng bình lưu lên đến 75-80km - Nhiệt độ giảm mạnh theo độ cao và xuống còn khoảng -70॰C đến -80॰C ở đỉnh tầng Tầng ion (tầng nhiệt) Từ 75-80km lên tới độ cao 800-1000m Không khí hết sức loãng chứa nhiều ion Tầng ngoài Từ 800km trở lên - Không khí loãng đến mức khoảng cách giữa các phân tử không khí lên tới 600km - Thành phần chủ yếu: khí heli và khí hiđro 3 Các khối khí - Ở mỗi bán cầu có 4 khối khí chính: khối khí địa cực (A), khối khí ôn đới (P), khối khí chí tuyến (T), khối khí Xích đạo (E). - Từng khối khí lại phân biệt thành loại hải dương (kí hiệu: m; tính chất ẩm) và lục địa (ký hiệu: c; tính chất khô). Khối khí Xích đạo chỉ có kiểu hải dương (kí hiệu Em) 4 Frông - Frông (F) là mặt ngăn cách hai khối khí khác biệt nhau về tính chất vật lí. - Trên mỗi bán cầu có hai frông cơ bản: frông địa cực (kí hiệu: FA) và frôngôn đới (ký hiệu: FP). - Ở khu vực Xích đạo, các khối khí Xích đạo ở bán cầu Nam và bán cầu Bắc tiếp xúc nhau đều là các khối khí nóng ẩm, chỉ có hướng gió khác nhau, nên không tạo nên frông, chỉ tạo thành dài hội tụ nhiệt đới chung cho cả hai bán cầu (ký hiệu: FIT). 5 Bức xạ và nhiệt độ không khí - Nguồn cung cấp nhiệt chủ yếu cho mặt đấtt là bức xạ Mặt Trời. - Nhiệt cung cấp cho không khí ở tầng đối lưu là nhiệt của bề mặt Trái Đất đượ c Mặt Trời đốt nóng. - Nhiệt lượng do Mặt Trời mang đến bề mặt Trái Đất thay đổi theo góc chiếu của tia bức xạ Mặt Trời, góc chiếu lớn thì nhiệt lượng lớn và ngược lại. 6 Sự phân bố nhiệt độ không khí trên Trái Đất a Phân bố theo vĩ độ địa lý - Từ Xích đạo về cực nhiệt độ giảm dầnn - Biên độ nhiệt trung bình năm tăng dần từ Xích đạo về cực. b Phân bố theo đại dương và lục địa - Nhiệt độ thấp nhất và cao nhất đều ở lục địa. - Càng vào sâu lục địa, biên độ nhiệt càng cao c Phân bố theo địa hình - Cứ lên cao 1000m nhiệt độ giảm 5 – 6°C. - Độ dốc và hướng sườn cũng ảnh hưởng tới nhiệt độ.